Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Nẻo đường cao nguyên.

 

Gặp Dã Quỳ nở muộn bên đường.



Một góc nhà già làng Ama Kông.

Voi Bản Đôn trên sông Serepok.



Cá Lăng vây hồng của dòng sông
(Chú cá này tới 7kg).

Chiều về trên sông Serepok.





Thác nước DraySap của dòng sông 

Trong làng cà phê TN

Những người bạn cùng cà phê Ban Mê.

Thác DraySap.

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Tìm lên cao nguyên.

 Bảo tàng Quang Trung.
Hậu duệ của vua Quang Trung.
 









Hai đánh một không chột cũng què.

  
Nước giếng mát lạnh. Xin lộc hoàng đế.
Vô thăm bóng đá HAGL.


Tham gia tuyển chọn đội bóng U60 dự giải Lão tướng Mùa Hè nhưng không đạt yêu cầu. Tạm biệt Pleiku.


Trên đèo An Khê.









Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Nắng gió miền Trung.


Chiều biển Quy Nhơn.



Vài hình ảnh đảo Lý Sơn:

 


Trên đỉnh núi lửa.

Dưới chân núi Thới Lới - đảo Lý Sơn.















Núi Thới Lới và biển Lý Sơn chiều về.








Đàn bò và đồng cỏ trên miệng núi lửa.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Lại thèm gió bụi.




1. Sông suối, biển và núi rừng miền Trung luôn hấp dẫn.
2. Mùa Hè rồi, lại đi chơi thôi.

3.4. Trên Hải Vân Quan và đường vào nhà máy lọc dầu Dung Quất.


Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

11. Cô hàng bún cá.

Cảng Chùa Vẽ, Ninh Kiều nhận lệnh lên hàng, chuẩn bị cho một chuyến biển mới.
Bữa cơm chiều ấy ở tàu, Dương "khè", lão máy nhất ở tàu chẳng mấy ai ưa, oang oang:
- Sáu Bảnh đi đâu hai ba bữa nay không thấy ăn cơm nhà hè. Ủa, mà trực ca bỏ ca sao ta?..
Cả bàn yên lặng. Buông chén cơm, Hai Thành lừ mắt, gằn giọng:
- Tàu đang đi ca bờ, tui trực giùm nó mấy bữa nay ông không hay hả? Sao không hỏi máy trưởng cho biết. Mà ai muốn ăn cơm ở đâu, ăn không ăn kệ bà người ta chớ mắc mớ gì tới ông...
Máy trưởng ngồi chung mâm, nhìn hai người không nói gì. Dương nhìn Hai Thành, ngại, tắt đài.
Hổng hiểu cái gã Dương "khè" này thi thố tay nghề hồi nào, ở cái hội đồng thi nào để ra được cái bằng máy nhất tàu biển hạng hai mà dốt, dốt đau đớn. Nghề thì mồm miệng đỡ chân tay, thầy phán lại phán bậy không. Nết thì xấu, chỉ được cái "khè" người lạ và bơm vá anh em cho cãi lộn, mất đoàn kết. Lính mới xuống tàu, "giả" khè nhẹ một khè, mặt mũi xanh lè. Tàu thiếu máy Nhất nên công ty thuê Dương  về đi đỡ một thời gian. Anh em sĩ quan máy đi tàu lâu niên, hiểu nghề, làm việc chung ít lâu là biết tẩy nhau, coi thường tay nghề và phong cách sống của anh ta. Tuy vậy ở đời, và đôi khi ở dưới tàu biển cũng vậy, dư người không thạo việc sẽ có người khác gánh nhưng vẫn cần một cái bằng, dù đểu, để điền đầy trong danh sách thuyền bộ.
Nghe đâu thời công ty cũ, lúc mới đi máy ba trên tàu VinCo, thuyền trưởng cấm lính đánh bài ăn tiền dưới tàu. Không được chơi bài, Dương nổ với anh em, nói lén để về bờ rồi cho ổng biết tay. Chuyện tới tai, vị thuyền trưởng người hiền lành, hỏi đùa thằng đó con cái ông lớn nào mà lối dữ? Tàu mới cặp bến, vừa xong thủ tục, một máy Ba mới xuống tàu nhận nhiệm vụ còn "giã" ôm đồ sign off lên bờ. Thuyền trưởng nói khỏi cần bàn giao, máy trưởng lo. Sau vụ đó Dương bớt "khè" được tí chút nhưng vì dốt nên bệnh "miệng mồm" đỡ "tay chân" của con nít thì không có khả năng thuyên giảm.

Đúng là Sáu Bảnh đã ghiền bún cá Hải Phòng mất rồi. Từ bữa tàu nằm cảng Chùa Vẽ hay neo ngoài sông Cấm, cứ buổi sáng là ra ăn hàng bún cá, bữa được bữa chăng mong gặp mặt cô bé hàng bún còn chiều xuống là Sáu cùng đám bạn Hải Phòng lượn qua bên Đồ Sơn.
Khéo hỏi thăm và loanh quanh cùng mấy người bạn "thẽo" theo nàng một hai bữa, Sáu hay được cô bé bún cá đang làm việc bên Đồ Sơn. Nhìn thấy cô bé bước chân vô một quán bia, tuy chưa thân thiết nhưng sao Sáu Bảnh vô duyên tự nhiên thấy lo lo một điều gì. Sáu biết được bữa nào rảnh rang buổi sáng là Trang qua bên Hải Phòng phụ bán quà sáng với người cô còn hàng ngày cô bé làm tiếp viên ở một quán bia bên thị trấn ấy. Nghe người ta nói cô bé mới có mặt ở nơi này chừng một hai tháng.

Một dãy nhà phố trông ra khơi xa, vị trí thật đẹp trên con đường ven bờ biển. Sáng chiều luôn nghe âm vang tiếng sóng vỗ ầm ì và gió từ biển thổi về mát rượi. Bãi biển trống, còn thiếu nhiều cây xanh, trước mặt lổn nhổn những đá là đá, lớn nhỏ từ bờ kè đuổi nhau chạy ra xa. Sóng vỗ nhẹ từng nhịp quanh những mỏm đá sù sì hàu biển tung bọt, nước đỏ đục phù sa.
Một vài biển hiệu nho nhỏ, sơ sài. Khu hàng quán ăn uống ấy ở phố biển Đồ Sơn vẻ giản đơn, có phần xập xệ. Mỗi buổi chiều về tắt nắng tới tối đêm có khá đông khách, hầu hết là khách lạ từ phương xa tới. Hương Biển Quán là nơi Trang làm việc mỗi khi chiều về đêm.

Bộ ba sinh hoạt riêng tư, bữa nay có thêm thằng em dại Dũng "dái", thủy thủ ở tàu vừa là đàn em lâu năm xin đi theo hóng hớt. Dũng "dái" là tên má Dũng đặt cho lúc nhỏ do nết ham chạy dong chơi, chết tên tục tới giờ. Dũng cao lớn đẹp trai, ngày trước lính không quân trên trời, bây giờ lại xuống nước làm thủy thủ. Ưa tếu táo cười cợt, tính tình lăng xăng bộp chộp hay hỏng việc, nhưng nó đi theo cho đủ tay tư nhậu và đấu hót, lâu lâu sai bảo việc gì lặt vặt cũng được.
Cả đám đã ngồi với nhau mấy tiếng đồng hồ, nhậu vớt mấy trận chót trước khi ra biển. Ngồi nhậu gần hết buổi, chuyện ở đâu ra mà nhiều thế. Thế rồi tới chuyện cô bé Trang và bún cá Hải Phòng.
Sáu Bảnh kể lại cho các bạn, tất cả những gì mình biết được từ mấy bữa nay. Bộ ba lâu nay có chuyện gì cũng thường bàn bạc rồi tìm lời giải. Chơi với nhau từ nhỏ nên có chuyện gì dù chưa nói cũng đoán ngầm ra được phần nào. Thường thì Hai Thành là người đưa ra những ý cuối cùng và cũng thường là hợp lí hơn cả.

Dũng ngồi hóng hớt, thỉnh thoảng cười te te góp chuyện vặt. Chưa vợ con, nghe chuyện lãng mạn của đàn anh  thấy vui vui, tây tây ba sợi mềm môi, bỗng nhiên cậu ta nổi hứng mần thơ:
"Anh Sáu là anh Sáu già, 
đã ba chục chẵn chẳng bà nào yêu,
anh Sáu là anh Sáu điêu,
đã ba chẵn chục chẳng yêu bà nào". He he he...
Hoàng tử bia thì nãy giờ chỉ ngồi lắng nghe và uống, bấy giờ mới tham gia:
- Nói Sáu Bảnh bỏ, chớ tui si nghĩ hoài, tự nhiên thấy tên bạn mình ghép đôi với nhỏ đó nghe kì kì. Không lẽ cả đời tụi tui kêu vợ chồng bạn mình Nghĩa Trang ơi Nghĩa địa à được sao? Không ổn, nghe xui thấy bà cố luôn, mần ăn lên hổng nổi bạn ơi.
Ngưng một hồi, cậu ta bỗng bật cười khe khe:
- Mà yêu đương gì Sáu Bảnh, hè hè, tui lạ gì cái nết của nó. "Khi bảng hổ danh đề hắn dzỗ cánh bay". He he... - Hoàng tử lên giọng nhá lời vở tuồng tích Dương Lễ ngày xưa với nàng dệt tơ quán gấm. Lại ngồi cười ngất ngư.
Sáu Bảnh đã kể hết chuyện với hội, nãy giờ ngồi lặng yên suy nghĩ. Thấy Hoàng tử bia nói vậy thì cười:
- Hổng có, mà chưa có chớ, chưa có yêu đương gì ráo. Tui chỉ đơn giản nghĩ là muốn kéo cô gái ấy ra khỏi không khí ngột ngạt hàng quán ở Đồ Sơn. Con nhà người ta hoàn cảnh tội như vậy. Coi con bé xinh xắn lại hiền lành, dân quan họ hội Lim đó biết không? Hổng hay thì thôi chớ đã biết chuyện, để trong bụng là suy nghĩ hoài cho coi.

Quê Trang ở vùng Kinh Bắc chứ không phải miền đất này. Một gia đình bình thường, êm ấm từ bàn tay nội trợ của người mẹ chăm sóc việc nhà và cuộc sống gia đình trông cậy hết vào bàn tay người cha làm nghề thầu xây cất.
Một năm ấy nhiều biến động, tín dụng bể dây chuyền làm nhiều gia đình điêu đứng, một năm giá vật tư xây dựng tăng cao không ngờ, nhiều nhà thầu bỏ chạy khỏi các công trình dang dở, cắt lỗ tránh phá sản. Là thầu nhỏ nhưng cha cô nằm trong số những người làm ăn giữ chữ tín, gắng gượng hoàn tất những công trình đã kí kết hợp đồng nhưng ôm về một món nợ không trả nổi. Những việc xấu tiếp theo xảy ra cho một gia đình khi phá sản là tất yếu.
Bỏ học, đi làm một việc gì đó để phụ mẹ cha nuôi các em. Vòng vèo qua những môi giới việc làm, cùng là người quen biết cả nhưng Trang không thể giải thích nổi tại sao người ta đưa cô về đây, với công việc như thế này. Không dễ dàng gì bỏ đi được bởi những ràng buộc giữa con người và tiền bạc loằng ngoằng khó gỡ. Bà chủ đã đã cảnh báo cô trước từ bữa làm việc đầu tiên. Ừa, cô gái còn trẻ người như thế, làm sao hiểu hết được chuyện đời.

Đã muộn, tiệc muốn tàn, Hai Thành như muốn kết thúc bữa nhậu:
- Biết chuyện là vậy đi, để mơi tính tiếp - Thành nhìn Sáu Bảnh xuống giọng:
- Nhưng cũng phải nói với cậu, nếu có lỡ yêu thương con nhà người ta, phải cho đàng hoàng. Nội ngoại còn mình cậu ham chơi chưa tính vợ con, chuyện của cậu tùy cậu hết nhưng làm sao cho mọi người cùng nói đặng là đặng.
Sáu Bảnh ngồi quay ngang ngắm nhìn người xe qua lại trên đường, suy nghĩ mung lung. Kìa xe đạp Nhật, ở đây nhiều thế xe đạp Nhật, những chiếc xe sạch sẽ, nhỏ xinh nhưng sang trọng. Một vài cô gái đi chơi về khuya, thong thả đạp xe mi ni dưới ánh đèn vàng. Sao Trang lại không được như người ta nhỉ.
Hai Thành tính tiền xong xuôi bước tới bóp mạnh vào vai:
- Về thôi Sáu, ngày mai rủ cái Trang đi uống cà phê nói chuyện được không? Hỏi kĩ coi sao rồi tính tiếp bạn ơi.

Đường phố đã bắt đầu thưa vắng, mấy cô bé phụ việc trong nhà đã lục tục dọn dẹp hàng quán. Hải Phòng vào đêm.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

Bà lão và bầy chim.

nhà, có một bầy chim se sẻ trú ngụ đâu đó gần nhà, cứ đúng giờ ăn của bầy gà là chúng tới ăn lúa chung với đám gà con nuôi thả. Vẫn dư dả một phần cho chim mà thấy chúng vẫn giành thóc và đuổi nhau, coi thật vui mắt. Những giờ phút để lãng quên cuộc sống chộn rộn ngoài kia.

Ở trung tâm thành phố, có một bầy chim se sẻ chiều nào cũng về với một bà lão bên lề đường quen thuộc. Lâu lâu có lẫn một hai chú bồ câu lạc bầy từ nhà thờ Đức bà bay qua hay từ Sở thú bay lại, xà vô bầu bạn lũ chim cùng nhau, loanh quanh bên bà lão.

Mỗi chiều dọn hàng về, bà lão lại lấy ra ít gạo trắng, rải ra trên lề đường. Lũ se sẻ từ trên cây, trên hàng rào sắt xà xuống vội vã nhặt gạo. Chim và người, chiều nào họ cũng giành cho nhau ít phút, như chào nhau một ngày rồi bà lão mới thu xếp ra về. Một ngày như mọi ngày, vẫn là những xấp vé số dang dở, hai tờ báo ngày và hai chiếc ghế trở đầu cái làm ghế cái làm bàn. Vẫn là Dì Hai, bà lão bán vé số bên lề đường Lê Duẩn mấy chục năm từ đó tới giờ. Gặp khách nâng máy hình chụp đàn chim quen của mình, Dì Hai mỉm cười thân thiết, rất đỗi hiền từ. Những phút hiếm hoi hàng ngày đường đi về bụi bặm trên phố.

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Hoa Sữa ơi.

Hình internet.
Đọc được ở đâu đó câu thơ:
...Hôm ấy mùa Thu anh vẫn nhớ,
Hoa Sữa thơm ngây ngất bên hồ...
Và rồi sau đêm hò hẹn chia tay, đường về nhà đạp xe qua phố Nguyễn Du đang mùa hoa Sữa, gió thoảng hương mang mác, ai đó trên phố nhâm nhi câu hát:
...Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm,
Có lẽ nào anh lại quên em...
Thấy thật là thơ mộng, cuộc đời thật đáng yêu. Tuổi đang yêu thì ai đó chắc là sẽ ghi nhớ và ấn tượng với hương hoa Sữa, nên thích hoa, yêu hoa và ca ngợi hương hoa Sữa thật đẹp.
Có rất nhiều những bài thơ, bài ca của nhà thơ, nhạc sỹ tên tuổi cùng những giọng ca đắm đuối lòng người, có nhiều lắm thơ của người ta yêu nhau đã đưa hoa Sữa lên với những gì đẹp nhất của tình yêu đôi lứa. Việc ngợi ca hương hoa, ca quá xá ca, khiến cho người ta, dù ở thật xa Hà Nội, dù chưa một lần biết hoa, chỉ nghe câu ca đã mê hương hoa Sữa.

Hơn chục năm trước có một hội chứng hoa Sữa. Và  cây  hoa Sữa từ lâu đã không còn là riêng tư của Hà Nội.
Hàng loạt các tỉnh miền Trung, từ Huế vô Đà Nẵng, từ Hội An tới thành phố mới Tam Kỳ, cứ những con đường mới mở hoặc nơi thiếu bóng cây là người ta mang hoa Sữa về trồng.
Phố biển Nha Trang có khá nhiều cây hoa Sữa. Anh taxi vui tính một bữa đi ngang phố hoa Sữa gợi chuyện nói, người Nha Trang hầu hết không ai thích mùi hoa, nó hắc lắm. Hắc đến khó chịu, nhất là những đêm đi làm về khuya, mùi hương muốn nhức đầu, đã thế lại sinh nhiều muỗi.
Trà Vinh nằm cửa biển, bên bờ sông Tiền yên ả. Xứ sở của cỏ hoa và cây trái, của lúa và chùa chiền Việt cùng Khme và có một thành phố cùng tên xanh sạch nổi tiếng nhất miền Tây trù phú. Những hàng cây Nhạc ngựa, cây Sao, cây Dầu… được chăm sóc và gìn giữ cẩn thận đã hàng trăm năm tuổi, cao vút trời xanh, rợp bóng mát, mươi năm nay bỗng xen vô bóng cây và hương hoa Sữa.


Cây hoa Sữa của vua Bảo Đại
-Hồ Lắc(BMT).
Một lần đi Ban Mê thăm hồ Lắc, ghé ngôi nhà nghỉ vua Bảo Đại xưa nằm bên hồ, cô bé tiếp tân tự hào giới thiệu cho cây hoa Sữa, là chính tay vua Bảo Đại trồng. Nếu quả vậy thì gốc cây ít gì cũng bảy tám chục năm tuổi, và nghĩ bụng vị vua cuối cùng này cũng yêu hoa Sữa đến vậy sao, hay là cô bạn kia yêu hoa Sữa thấy nó đứng đó tự bao giờ mà tự hào nói vậy.
Nghĩ ra là từ miền Trung nắng gió, cao nguyên xa xôi tới miền Tây sông nước hiền hòa, lâu nay có nhiều những người ta thích, yêu rồi nhiễm hương cây hoa Sữa Hà Nội hồi nào không hay.

Khi mùa đầu tiên hoa Sữa nở, nụ cười và những lời ngợi khen nhau, khen hương hoa thơm chưa được bao lâu, bà con chợt ngộ. Hương hoa Hà Nội hăng hắc chớ không dễ chịu một chút nào. Những ngày gió lặng, đi ngang cây, mùi hương nặng chịch xộc vô mũi, đôi khi chới với, nhất là ai đó dị ứng phấn hoa. Năm qua năm, mỗi mùa hoa Sữa về khi đi ngang gốc hoa Sữa là không ưa được nó. Hoa Sữa bây giờ trở thành nỗi ám ảnh của thảo dân.
Có nhiều chuyện bi hài quanh cây hoa Sữa, từ chuyện dị ứng phấn hoa, viêm xoang viêm mũi tới chuyện ai đó ngồi trong nhà mình mang khẩu trang để tránh mùi hoa. Không dám chặt cây là tài sản công cộng, ai đó chặt bớt cành trước nhà rồi đóng chặt cửa sổ ngồi coi nhà, hối vợ mang con về ngoại ở đỡ qua mùa hoa nở. Có một ngày nào vợ chồng đã bàn với nhau câu chuyện bán nhà đi nơi khác ở.

Và rồi ít năm trước bà con Tam Kỳ đòi chính quyền phải chặt bỏ cây hoa Sữa, không thôi sẽ kiện vì đã trồng hoa Sữa làm ảnh hưởng môi trường sống của người dân, lâu rồi dần quên.
Mới mấy bữa nay lại nghe bà con thành phố Trà Vinh đòi kiện chính quyền vì đã trồng thứ cây này. Thảo dân nói, hoa Sữa Hà Nội trồng tới đâu làm ô nhiễm môi trường tới đó.
Để thì tội nghiệp cho thảo dân sống bên cây năm này qua năm khác, chặt bỏ thì tiếc hơn mười năm gây trồng. Bật cười có người chức trách vì yêu hoa Sữa hơn người nên gợi ý cho thảo dân, hay là mùa hoa sữa về nên đi du lịch hoặc tạm lánh đi đâu một thời gian.

Tuổi thơ Hà Nội biết yêu cây Cơm nguội vàng, cây Bàng lá đỏ, yêu các bác Sấu già trên đường đi học hay có khi là bóng liễu thướt tha bên hồ. Chắc bởi những bác cây kia thương con trẻ, cho hoa trái nhẹ nhàng và bày ra nhiều trò chơi thú vị hấp dẫn tuổi thơ. Cũng yêu nữa các bác Xà cừ quanh năm rợp bóng sân trường, các chú ấu trùng thích leo lên tấm áo vỏ sần sùi của Xà cừ hay bác Sấu, bám chắc vào đó để tự thay áo cho mình, lột xác thành những chú ve bé con i a gọi mùa Hè.
Ngày xưa chưa một lần biết yêu hương hoa Sữa. Và ngày xưa hương hoa Sữa Hà Nội không xa khác như bây giờ.

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

10. Bến lạ và bún cá.

Tiếng đập cửa ầm ào cùng tiếng người lao xao khiến Sáu Bảnh đang lơ mơ chợt tỉnh giấc. Ánh nắng chói chang chiếu thẳng vào mắt từ ô cửa táp lô bên mạn.

Ráng lắm Sáu mới ngóc đầu dậy nổi. Cái đầu như không phải của mình, sao mà nặng chịch, đau nhức thế này. Phải mất một hồi định thần lại, Sáu mới nhận ra đang nằm ở phòng ngủ của mình ở trên tàu. Nhớ được rằng đêm hồi hôm đi uống rượu về khuya lắc lơ, nhớ được hồi hôm uống quá chừng và say cũng quá chừng luôn, nhớ được chi tiết cuối cùng là tiếng Hoàng tử bia kêu lớn "coi chừng té" và người quan thuế gác đêm ở tàu phải chạy vội lại đỡ, xém té xuống sông Cấm ngay chân cầu tàu. Rồi hai ba người, những ai đó không nhớ nổi, dìu Sáu qua cánh cửa hành lang, đụng đầu đau ớn mới tỉnh rượu được một lúc, tới giờ sờ còn thấy đau đau. Nhưng từ quán đi về tàu bằng cách nào và ai đã đưa mình về thì Sáu chịu.
Cảng Hải Phòng. Tàu về bến lạ, thủ tục xong không khám, tàu bè nước ngoài về thủy thủ sợ nhất quan thuế khám tàu. Buổi sáng cũng kiểm hóa xong, êm đềm, bạn cũ Cầu Rào và nhóm bạn hẩu rủ nhau đi uống một trận rượu bờ cho đã đời.

- Anh gì ơi, dậy đi thôi.
- Anh gì ơi,  bán hàng đi.
- Có gì bán không anh giai ơi...
Những tiếng nói lao xao và tiếng đập cửa càng ồn ã, mạnh bạo hơn. Sáu chồm dậy mở cửa phòng, cánh cửa bị bật tung ra trước sức chèn đẩy của cả chục con người. Họ nhào vô phòng rất tự nhiên, vài ba thanh niên còn lại hầu hết là các cô các chị. Gấu quần xăn lên một khúc, nón lá quạt lạch phạch, khăn mặt vắt trên vai. Người lau cổ, người lau mặt, căn phòng sặc mùi mồ hôi. Chờ mọi người an vị trên giường, ở phòng ngủ trên tàu nhỏ, giường thay cho ghế luôn, Sáu hỏi:
- Ai chỉ cho mấy người vô phòng tôi dzợ? có bán mua gì đâu nà. Mà sao các anh chị lên tàu được nhỉ, có lính gác mà? Mọi người nhao nhao:
- Hải quan cho lên mới dám lên chứ, kiểm hóa xong rồi mà anh ơi.
- Có một anh gì ấy ở phòng đầu tiên chỉ xuống đây.
- Anh gì ấy, ở trên boong, đẹp giai có ria mép nói là xuống phòng máy Ba nhiều hàng "bông hoa nhỏ" lắm.
Sáu bảnh chợt hiểu. Thằng bạn "đỉu" chơi mình đây. Sáu cũng thật nhanh, cười với mọi người:
- Lộn rồi, lộn rồi, anh ấy nhầm đấy, các chị coi phòng tui trống trơn có hàng hóa gì đâu. Thôi thôi, đi lên trên kia hết đi.
- À... lên phòng "vê tê đê" mà hỏi, anh đó mới nhiều hàng, nhiều ác luôn. Lên mau đi không thôi ảnh đi bờ bây giờ đó.
Thùng mì gói Hàn Quốc ở trên bàn, "em gói, em gói, cho em gói..." một hơi hết veo, rồi đoàn người mới kéo nhau đi. Mùi dầu từ dưới buồng máy sộc lên qua cánh cửa mở quyện với mùi hàng hóa, xà bông thơm trong phòng và mùi mồ hôi khét nắng làm Sáu Bảnh lên dầu sống. Say ngược, Sáu lao vội ra phòng vệ sinh. Mới xong "tiếng hò sông Hậu" chợt nghe phía sau tiếng hoàng tử cười he he:
- Đã chưa cưng, uống vô cho cố, "ọi" cho cố, thấy phát ham. Kêu sáng giờ không chịu dậy, chỉ nhờ mấy em đất cảng mới đánh thức được cậu. Mau mau lên thay đồ đi ăn sáng đê.

Lên mặt bong thấy thoáng mát, tỉnh người. Nhưng bến cảng Chùa Vẽ trong hơi gió biển còn lẫn vào mùi tanh cá biển mặn, mùi dầu mỡ, mùi ẩm kho hàng hóa và hơi hướm cũ kỹ đâu đó trong không khí. Bến Sáu Kho xa xa kia ư? Sao lại có thể là những dãy nhà nhỏ bé, mốc thếch, xưa cũ và uể oải, khác rất nhiều trong tưởng tượng của Sáu về một bến cảng với dãy nhà kho xênh xang và không khí làm việc công nghiệp ầm ào, một lần Sáu đã đọc được đâu đó về bến Sáu Kho.

Nhóm người mua hàng lẻ đang xúm trước cửa phòng Hai Hùng, lao xao. Cái phòng "vê tê đê" chút chíu, hai mạng đứng trong phòng muốn chạm mặt nhau rồi huống chi cả chục con người. Chết cha thằng em rồi. Sáu bảnh bật cười. Nhưng kìa nó làm cái gì đây? Bán giày chăng? Lại giày, cái thằng! Nghe tiếng người loáng thoáng mười lăm mười sáu đồng đôi...
Sáu lại gần, ra là thằng Hùng bán giày thật, thôi chết mịa rồi. Vội vã Sáu gạt nhóm người sang bên, lớn tiếng:
- Ai cho bán mua ở đây? thuế má đã xong đâu, các người muốn hải quan xuống khám tàu hay sao?
- Anh kia đồng ý bán cho em chứ lị.
- Không việc gì đến anh.
- Tầm bậy nào, ai cho mua bán hàng khai, chỉ mấy món bông hoa nhỏ thôi. Hải quan bắt chết bây giờ.
Chắc hay tin và nghe ồn ào, Hoàng tử Hà và Hai Thành cùng mấy anh em thủy thủ kéo tới. Mọi người đã im lặng, một cô gái trẻ nhoẻn cười:
- Mấy đứa em xin hải quan trước rồi, các anh cứ yên tâm.
Quơ hết mớ xà bông thơm, kem đánh răng, allbum đểu và vài ba chai dầu xanh Con Ó, nhét hết vô ba cái giỏ xách vàng hiệu New Sun, Hai Thành đưa cho cô gái:
- Giao hết cho các cô chia nhau. Lát nữa thanh toán cho tôi, kể cả tiền giỏ xách rồi biến hết đi. Làm ăn kiểu này họ xuống khám tàu là chít, chít cả làng. Hai hùng ngơ ngác, tiếc của nhưng cũng đành im lặng nghe theo.
Chờ mọi người tản đi hết, Hai Thành kêu Hùng ngồi lại:
- Lại dốt nữa. Tàu đi nước ngoài về cảng, là cảng lạ, không bị khám xét gì là may phước. Thuyền trưởng hay, làm việc với người ta cảm tình mới được vậy. Cậu làm ăn lộn xộn coi chừng, họ tưởng có hàng lậu, xuống khám tàu một phát là tanh bành te tua, không có gì họ cũng làm cho có. Cậu dại, tàu bè thiệt hại, thuyền trưởng sign off cậu lên bờ là chắc.
Hai Hùng xanh mặt. Thành vỗ vai:
- Đừng có làm gì lộn xộn, tôi có mối bán hết hàng giày cho cậu rồi đó, tại đây luôn, mười tám đô, được chưa? Nên nhớ ở đất này bán sỉ cao hơn bán lẻ, nhưng phải gom vô một mối. Làm ăn như cậu chỉ có ăn bốc đi đất đầu trần.
Mười sáu đồng là giá đặt mà cha này bán tới mười tám lận, lại bán hết... Tài, tài thật! Hùng ngồi bần thần, sướng âm ỉ, không để ý Hai Thành hối mặc đồ lên bờ đi ăn bún cá.

Bún cá Hải Phòng, Hai Thành ngày nào cũng rủ bạn đi ăn sáng. Chỉ có mấy gánh hàng rong bán bên lề con đường mang tên Đà Nẵng mà sáng ra ngày nào cũng đông nghìn nghịt.
Công nhận Hai Thành đi tới đâu cũng rành rẽ ẩm thực vùng miền và cũng công nhận món bún cá Hải Phòng ngon thiệt ngon. Cá Rô hay cá lóc lấy phi lê, một ít thịt cá hấp mềm ngọt, một ít chiên giòn thơm. Thêm mấy miếng chả chiên và ít hành ngò, còn lại tần ô và rau cần ta thơm phức, Bạc hà chấm nước mắm ớt ngấm nước vừa đủ ngọt lại vừa giòn. Tô bún cá váng lên những vệt trứng li ti màu vàng được đâm tan nổi trên mặt nước lèo, mới nghe mùi đã thấy tỉnh cơn say đêm trước.

Một điều chưa ai biết là từ bữa bún cá đầu tiên, Sáu Bảnh đã phát hiện một cô bé phụ việc ở đây xinh xinh đáo để. Cô bé chừng hai mươi, ít nói, cặm cụi bưng bê, vẻ nhút nhát không dám nhìn khách nhưng khi hé miệng cười coi tươi tắn hết sức. Bữa trước lén hỏi nhỏ, cô bé lí nhí em tên Trang. Để ý nên hỏi thăm, Sáu còn biết buổi sáng ra Trang phụ bán hàng ở đây cho người bà con, chiều về còn đi làm việc khác. Kiếm chuyện để làm quen, một bữa nịnh đầm, Sáu khen:
- Bún cá Hải Phòng ngon tuyệt. Cô bé Trang bật cười thành tiếng, nhỏ nhẹ:
- Muốn ăn bún cá Hải Phòng anh phải qua bên Chợ Sắt, chỗ "bà ba bé" ấy, còn ở đây là bún cá Thủy Nguyên, hi hi... Đôi mắt sáng, nụ cười môi đỏ hồng tươi.
- Vậy sao? Ừa thì bún cá Thủy Nguyên, bún cá ở đây trên cả tuyệt vời - Sáu mừng vui lắm khi bắt chuyện được với cô gái.

Vậy nên sáng ra Hai Thành cứ rủ ăn bún cá là Sáu Bảnh đi liền. Những ngày tàu làm hàng ở cảng Chùa Vẽ, ngày nào Sáu  cũng đi ăn bún cá ở đường Đà nẵng. Sáu ghiền bún cá Hải Phòng mất rồi.

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

Cưng à.

Chị Chín và các em.
Gia đình anh Chín là hàng xóm còn đại gia đình nhà chị ở bên quận Tư. Anh chị sống ở nước ngoài về thăm mẹ già nay đã lớn tuổi, bà cụ đang đau bịnh. Sáng nào anh chị cũng qua quán uống cà phê sớm và hai người luôn là người mở hàng. Gặp mặt là thấy chị Chín cười, nụ cười thường xuyên thay những lời chào.
Kêu chị thứ Chín là kêu theo bên ảnh, chớ bên nhà chị là thứ Hai. Lâu lâu các em bên quận Tư sang chơi với chị là họ kéo nhau qua ngồi cà phê.
Những khi ngồi với các em, nghe cách nói chuyện và xưng hô ngôn từ của chị Chín với các em nhẹ nhàng đến mềm lòng.
Một bữa ở quán, nghe tiếng chị rầy một ai đó, nhỏ nhẹ:
- Cưng à, sao em lại làm vậy?
Chỉ là một việc nhỏ, đổ quá nhiều đường vô ly cà phê và làm nhểu nhảo trên bàn.
Người em trai ngồi kế bên, tuổi trạc ba mươi ngoài, chỉ cười, như là thích nhõng nhẽo phá quấy và chấp nhận sự la rầy giống một đứa trẻ.
Chị lấy khăn giấy, cẩn thận lau sạch bàn, nhìn người em trìu mến rồi lại lấy thêm một miếng khăn giấy khác đưa cho em, nhỏ nhẹ:
- Cưng để đó chị làm cho.
Một lần khác, chị hỏi cậu em:
- Cưng ăn một chút gì nào?
Cậu em đủng đỉnh, cười:
- Em không ăn.
Thế rồi chị cũng ép được cậu em dùng điểm tâm bánh mì ốp la. Lại là vụng về nhểu nhảo, lại rớt muổng, và chị lại rầy. Rầy la mà sao nhẹ nhàng, để làm em ai cũng muốn nghe, muốn làm một việc gì đó để được nghe chị rầy:
- Cưng làm phiền quá đi cưng à, gọn gàng lại một chút coi nào.
Một lần, tình cờ nghe chuyện mấy chị em ngồi bàn nhau, hay là kiếm cho cậu Út một ai đó để có một mái ấm riêng tư, chị Chín lung mung lắm. Chị nói một mình cưng thiệt thòi với chúng bạn từ nhỏ, thôi thì ông trời tính, cưng ráng chịu phần thiệt thòi, chớ a... lại kéo người ta vô với mình, cực cho người ta... nghe không đặng. Có anh chị em xung quanh, lo cho cưng được chút nào bấy nay, vậy là mừng. Nhưng mà không biết mai mốt này...

Chị Chín nay đang sống ở bên Pháp, năm nào cũng về nước thăm gia đình hai bên. Con cái chị nay đã trưởng thành bằng cuộc đời và những lời nói dịu hiền nhất của người mẹ. Chị tâm sự, lúc nhỏ mẹ chị đánh con cái dữ lắm. Kí ức tuổi thơ là những trận đòn của mẹ bất kể lí do gì không vừa ý. Chị không giận mẹ và sự dịu dàng của chị như một sự bù trừ, nhất là với cậu Út, người em trong nhà nhiều thiệt thòi mà có một lần chị nói,  chắc tại ngày nhỏ bị đánh đòn nhiều quá đây mà, tội nghiệp, nó khờ quá. Cũng một cách nói về cậu em của mình không may mắc chứng tự kỉ.
Bữa ấy chia tay, nghe tiếng cậu em nẹt  pô xe máy, chị hốt hoảng vói theo:
- Chạy xe thật chậm cưng à, đường xá nhiều xe cộ, chộn rộn lắm đó nghe cưng...
***

Dựng chiếc xe đạp trước cửa phòng khám nha khoa tư nhân, cậu trai trẻ cứ loay hoay mãi với cây chống nghiêng của chiếc xe. Phòng khám đông khách, xe máy đậu chen lề đường.
Đứng hút thuốc gần đó, tính phụ cậu dựng gọn chiếc xe bỗng nhận được cái xua tay nhã nhặn như muốn nói tự tôi làm được cùng một nụ cười cám ơn. Cậu trai đứng đó ngắm chiếc xe đạp của mình kĩ lưỡng và mỉm cười một mình. Một hồi dường như chưa ưng ý điều gì, cậu xoay cái ghi đông xe cho chiếc xe hướng qua hai bên phải trái rồi lại đứng ngắm nghía.

- Được rồi đó cưng à - Một giọng nói ai đó.
Cách một khúc xa xa, người nữ đậu chiếc xe đạp điện bên lề đường, như là đã đứng đó và quan sát từ hồi nào. Chị chạy xe lại gần, vẻ mặt hiền lành, phúc hậu, dường như chị chạy theo sau chiếc xe đạp nãy giờ. Quay qua, nụ cười tươi tắn, chị bắt chuyện:
- Con trai em đó, nó khờ lắm. Bữa nay sưng nướu một chút, nói ngậm nước muối được rồi, nó không chịu đòi đi khám cho được... Lại cười.
- Sao hai mẹ con không đi một xe cho khỏe hơn không?
- À... tại nó rất yêu chiếc xe đạp và thích đi xe một mình. Nhà em cũng ở gần đây thôi, bên khu Bàn Cờ nè. Rồi cô quay sang cậu trai:
- Vô phòng ngồi chờ đi cưng à, chừng nào đến lượt người ta kêu tên, vô khám xong rồi về liền nghe.
Dợm chạy xe đi cô còn ngoái lại với cậu trai:
- Mà cưng nhớ đường về không đó... Ừa, ... Vậy về trước đây cưng à... bai bai nha...
Mẹ con họ nhìn nhau trìu mến, trong nụ cười như là đã nói với nhau.

Đưa bé con ở nhà đi khám răng, ngồi phòng chờ ở chiếc ghế đối diện, đôi lúc đưa mắt nhìn qua, lại thấy cậu trai mỉm cười thân thiện. Ở cậu trai có nét rất hiền và như mẹ cậu nói, cách nói của người bình dân Nam bộ, hiểu là cậu ấy mắc chứng tự kỉ.

Một lúc lâu sau, chiếc xe đạp điện ấy lại chạy ngang qua phòng khám, là người nữ ấy. Không dừng xe, chị chạy chậm lại và đưa mắt nhìn vào phía trong phòng chờ của bệnh nhân rồi mới chạy đi luôn. Chị vẫn vòng qua vòng lại.
Vậy là buổi chiều bữa ấy, chiếc xe đạp điện vẫn luôn luôn đi sau chiếc xe đạp. Chị vẫn đâu đó phía sau cậu con trai của mình. Đâu có phải đâu là "về trước đây cưng à"...

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

Cái xích đu.

bé Nhí và xích đu.
Con người ta thích đong đưa từ tấm bé chứ không đợi đến tuổi yêu là mới biết “đong đưa”. Mà cũng không phải chỉ có con gái mới biết đong đưa đâu, ai đó thử nghĩ mà coi.

Này nhé, đứa trẻ nào trước khi sanh ra là bà mẹ phải sắm một chiếc nôi, nhà nghèo thì cái võng giản đơn, nhà khá hơn là chiếc nôi kiểu cọ có thêm mấy món đồ chơi nhiều màu sắc với tiếng nhạc "biing boong" trên đầu nôi.
Bé mới sanh ra là ngủ, ngủ bù phần mẹ thức sao ấy, nên khi bú đã miệng, rời vú mẹ là ngủ, ngủ tối ngày. Bé ọ ẹ, cái nôi đong đưa nhẹ là ngủ liền. Lớn lên một xí, nằm võng ôm bình sữa uống cạn, mẹ nhẹ tay đong đưa một phát là bé cười cười giỡn, hồi quay ngang ngủ êm cho mẹ đi làm công chuyện. Lớn thêm lên là biết chơi xích đu, ghế đu, đu quay trong công viên, nhà trẻ hay ở nhà mình,  vậy đúng là ai cũng thích đong đưa từ nhỏ.
Dẫn các bé tới chơi nhà bè bạn, nơi ấy có cái xích đu, cá một ăn mười, chấp hẳn một trái, là đám nhỏ tụi nó sẽ rủ nhau ra ngồi xích đu chơi với nhau cùng mấy món đồ chơi và vài cuốn truyện tranh Doremon, bỏ cha với mấy chú muốn "ra dzô" hết ba sợi hay năm sợi cũng mặc.

Đó là một chiếc ghế có hoặc không có mái che, chiếc ghế đu lên xuống nhờ trọng lực và thường chỉ quay quanh một trục có hai ổ quay. Cái xích đu ở nhà làm tới tám ổ quay và bốn trục, các phần của chiếc ghế không gắn cố định với nhau, từ ngữ cơ khí tạm kêu như vậy. Giá treo kiểu công son một đầu gắn vô tường rào còn đầu bên kia để trống, các bé đang chơi có thể dễ dàng bước lên xuống không vướng víu, an toàn. Ghế cho hai người ngồi đối diện nhau.

Ngày đó, khi thay những ống nước sinh hoạt trong nhà lâu ngày bị cặn bám, ống nhựa thay cho ống sắt, nhìn những ống nước bỏ đi còn rất tốt, thành ống dày, lớp kẽm tráng cũng dày, láng bóng không một gợn ba via, sơn còn không muốn dính. Thứ ống nước ngày trước người ta làm chất lượng lắm, không như bây giờ. Là dân cơ khí, nhìn những ống kẽm dày bắt ham nên cha bé nghĩ sẽ giữ lại những ống nước cũ để sử dụng một việc gì đó.

Hai và mẹ và xích đu.
Năm ấy mới có bé Hai, Anh Đỗ chị được cưng như cục... cưng ấy. Một sáng vợ chồng ngồi nhâm nhi cafe với nhau ngoài sân, tự nhiên sực nhớ có lần tới chơi nhà người bạn, trong sân nhà có cái xích đu xinh xinh. Thế là nghĩ ngay phải làm một cái xích đu cho bé, kiểu cọ phải thật riêng, lọ mọ ngồi vẽ ra các kiểu xích đu và chọn được một kiểu ưng ý.

Lấy ra các loại ống nước đã bỏ đi, kéo một anh thợ mang máy hàn về nhà cùng làm. Anh thợ hàn nhìn hình vẽ, lắc đầu nói khách kêu làm thì làm kiếm tiền, chớ... làm vậy sao xích đu nó đứng được đây? sao đu được đây? Nói anh cứ làm với tôi coi sao, không thôi coi như tui mướn máy hàn. Anh ta cười cười, nghĩ thầm chắc cha này hâm hâm kiểu vừa đi bộ vừa cười một mình trên cầu Long Biên.

Cắt ống, uốn, hàn, rồi ghép các phần lại. Khi dựng lên hình thù cái xích đu, vừa khít khịt, các khớp quay trơn tru nhẹ nhàng. Thử tải công son một người rồi hai người lớn, chắc chắn, thế là ổn. Chưa kịp sơn, bồng bé đặt bên đối diện và hai bố con... một hai xít đu...u nào. Con bé Hai cười nắc nẻ còn anh thợ hàn cũng khoái chí cười theo.
Chiều mát ngồi xích đu dưới bóng cây, chèn hai bên hông bé hai cái gối nhỏ, mẹ ngồi bên kia, tay chén bột hay chén cơm, miệng cười "à...ầm" chỉ một hồi là bé làm veo một chén.
Từ ngày làm cái xích đu ở nhà cho bé, vẫn thường để ý đến kiểu dáng các xích đu nhưng chưa thấy cái nào giống kiểu cái xích đu ấy, một kiểu công son, di chuyển song phẳng, không đụng hàng ai hết.

Các bé và xích đu
Thời gian trôi. Chị chơi, em chơi rồi bạn bè của chúng chơi, Hai và Nhí đứa nào cũng tự hào khoe với chúng bạn, cái xích đu là tự tay cha làm cho tớ đấy. Cái xích đu tuổi cũng xem xem tuổi Hai. Ai có lớn lên đi học xa nhà còn cái xích đu vẫn loanh quanh trong vườn. Bây giờ nó chạy ra gần cổng, núp dưới bóng cây khế ngọt để chơi với các bạn nhỏ đi cùng cha mẹ tới uống cà phê ở quán nhà.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Gởi Hai nè.

Cây Lan tiêu ngoài cổng rào, gần bằng tuổi Hai, năm nào cũng vậy, cả mùa khô chịu nắng, lá úa vàng èo uột, cành khẳng khiu, để cứ vào đầu Hè, chớm mưa mới nhú ra những đọt xanh mang theo một chùm nụ bông ở đầu ngọn. Từ nho nhỏ màu xanh, lớn dần lên mang màu vàng cam và chỉ một hai bữa nở bung ra những bông xinh màu đỏ hồng. Bông Lan tiêu dạng loa kèn, cũng đẹp nhưng mau tàn. Vậy nhưng mỗi lần hoa nở là nhớ, mùa nghỉ Hè của các con đã tới.
Mùa hè về rồi, cả nhà nhớ Hai, gởi cho Hai mấy tấm hình những góc vườn nhà.

Cây khế ngọt thì vẫn thế, trái quanh năm không có mùa. Cứ một đợt trái chín vàng, rụng xuống lại ra một đợt bông mới. Có một chú Dơi và một chú Sóc thường lại cây ăn trái, ăn dang dở làm rụng xuống sân, hổng trả cục vàng nào hết mà bậy vô tường nhà một cái rồi mới chạy đi. Chú Dơi đi vắng đâu ít lâu, mấy bữa nay lại thấy quay về khi quán vắng, đảo quanh vài phút cho đỡ nhớ rồi mới bay đi.

Còn dây Trang leo - Sử quân tử được nâng niu uốn tỉa, mùa này cho nhiều bông và  trải rộng trên tường, lòa xòa trên mái ngói, dễ thương chưa nè. Sử quân tử còn leo xen vô cây khế, điểm bông trắng đỏ với bông khế vui mắt.

Cái xích đu của Hai bây giờ đứng sang bên trái nhà, buổi chiều có bóng mát cây Khế ngọt thay cho cây Sơ ri ngày trước. Và các em nhỏ tới đây, em nào cũng thích chơi với cái  xích đu ấy.
 

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

9. Hành trình của những chiếc giày.

Tàu và sóng biển (Ảnh- Lộc HB)
...Thích nhất ở cái nhà hàng nằm trên con đường dốc ấy là bia chai xanh Thanh đảo và món chạo tôm với vị tôm xay ấn tượng bao quanh những khúc mía lau thơm ngon xinh xắn...

Máy hai Thành luôn sành điệu và chu đáo. Ở đâu cũng vậy, đi ăn uống là phải vô nơi chốn cho đàng hoàng, kêu món ăn ngon thiệt ngon, xài gì cũng muốn cho đáng đồng tiền bát gạo.
Đi ra nước ngoài mấy khi được vô mấy nhà hàng như thế này, mắc chết tiền luôn. Vậy mà ngồi kế Nhơn voi, Hai Hùng đầu óc để đâu, không uống bia, và ăn cũng không thấy ngon miệng.

Cuối bữa ăn, Hùng ghé tai Nhơn thì thầm:
- Ây mậy, hồi sáng ghé tiệm Nguyên Huy, tao thấy ở đó có giày Adidas y chang hàng tao mua bên Siing, phải thứ đó không ta? 
- Ừa, tui có thấy mấy đôi hàng mẫu ở trên kệ, nhìn giống quá, biết có phải thứ anh mua không nhưng hồi sáng gặp đám thủy thủ tàu Hải Phòng ở tiệm, tui còn nghe loáng thoáng họ đặt hàng nữa - Nhơn voi xuống giọng - Người cả trăm đôi lận.
Hùng chột dạ, lầm bầm:
- Vậy là đụng hàng rồi, chết cha tui... Mà biết chừng nào tàu mới về cảng nhà, chừng nào mới mang được hàng lên bờ đây trời!

Thực sự, câu chuyện những đôi giày của Hai Hùng đã dài dài và đang còn dài dài nữa, bởi cả đống hàng giày của Hùng sau mấy chuyến đi, bây giờ vẫn đang nằm trên tàu. Tội nghiệp cho Hai Hùng và cho cả những đôi giày vô duyên, nằm trên tàu đi vòng vòng mấy ngàn hải lý, những chiếc giày ấy giờ lại quay trở về  nơi chốn mà từ đây chúng đã ra đi.

Chuyến tàu rồi về ngay cảng nhà, hỏi những người có kinh nghiệm, Hùng kê khai nghiêm chỉnh hàng mang về, là lô hàng giày chân trái mới mua. Riêng những thùng giày chân phải mang đi tính bắt thường người ta, giờ mang trở về được coi như hàng lậu vì lúc đi không khai hàng mang theo, tình ngay có chăng chỉ còn lơ huơ mấy niêm phong hải quan rách dán ngoài carton ghi ngày tháng và có dấu kiểm hóa của chuyến tàu trước.
Ở cái thị xã miền Tây này, anh em quan thuế và thủy thủ tàu bè lòng vòng rồi cũng là chỗ quen biết nhau. Cùng làm ở các cơ quan hàng tỉnh, qua lại gặp mặt nhau hoài. Nhiều người không học hành chung lúc nhỏ thì lại chung bổ túc công nông, cái kiểu của một thời, không thôi thì nhà ở gần hoặc vòng vòng qua lại hỏi kĩ có khi lại có tí bà con xa. Hai Hùng làm việc ở tỉnh nhà lâu năm nên cũng được nhiều người biết tới.
Ngày kiểm hóa, anh em quan thuế đã biết chuyện Hùng, cảm thông và về báo cáo cho Năm Chính, đương nhiệm giám đốc quan thuế tỉnh. Cái việc thủy thủ tàu mua hàng lộn rồi lại mang tái xuất mà không khai báo, là tại chưa rành về thủ tục, là chuyện tình ngay lí gian của Hai Hùng, xin anh Năm giải quyết cho. Vốn tính đa nghi cực kì, ít khi tin ai, Năm Chính chắc nịch:
- Trái phải gì, mấy đứa thủy thủ chuyên buôn lậu, nhất là thủy thủ Sài Gòn, ai tin tụi nó, cứ niêm phong lô hàng cũ đã, để coi kĩ lại...

Thế rồi công ty Hưng Thịnh, một công ty xuất nhập khẩu chủ lực của tỉnh có lô hàng đông lạnh cần đi Hồng Kông gấp, Ninh Kiều nhận lệnh làm hàng, chuẩn bị hành trình. Hùng tính mang số hàng đã đóng thuế của chuyến rồi lên bờ, quăng ở nhà cho chắc ăn. Riêng đống giày chân phải của chuyến trước bị niêm phong, anh phải để trên tàu và tính nhờ vợ ở nhà đi năn nỉ hay nhờ vả người ta. Hai Thành nghe chuyện vội vàng ngăn lại:
-Thằng này điên à, sao lại mang một nửa về nhà, một nửa để trên tàu là sao? Mang đống này về nhà thì đống chân phải kia phải ở gần nó. Hoặc để hải quan họ giữ hàng mang về kho, rồi bà xã cậu có xin xỏ được thì lấy về ghép đôi mà mang bán.
Quăng vô kho hải quan sao? Không được đâu, ai dám tin họ - Hùng nghĩ - Hàng vô đó kể như là mất.
Thấy Hùng rầu rĩ cả ngày chưa tính được gì vì lên Hải quan năn nỉ cách gì anh Năm cũng chưa giải quyết. Chỉ còn một hai bữa nữa là tàu hành trình. Thương đồng nghiệp, biết chuyện, Hai Thành động viên:
- Xui xẻo lắm thì mấy ông quan thuế tịch thu hàng rồi cũng bán cho thương nghiệp, giày chân phải không ai mua, khi ấy lại phải kêu tới mình, đừng lo lắng quá, có điều chậm chạp hàng mất giá.
Anh tính toán một hồi rồi rỉ tai:
- Thế này, khỏi mang chiếc nào đi đâu hết. Cứ mang tất cả theo tàu, mang theo luôn tờ khai hàng cả hai chuyến, hóa đơn đóng thuế luôn. Trên đường đi biết đâu ghé cảng nào hoặc có dịp neo tàu đâu đó, đánh hết hàng lên bờ. Người ta có bạn, giày dép phải có đôi chớ.

Cô giáo Yến thấy Hai Hùng làm ăn cứ trục trặc nên buồn buồn, một bữa hẹn một vài mối làm ăn cho Hùng gặp gỡ, cô nói với chồng:
- Hổm rày bê trễ công việc cơ quan quá, từ nay em để giờ lo cho ku Bin và học trò của em thôi, anh tự lo việc của anh, như dzậy  có được hôn?
Các chị em ngoài chợ phần vì tới chơi thấy mấy chiếc xe máy mới tinh dựng trong nhà, phần thấy chồng Yến vẫn đi tàu hoài hoài thì khỏi lo lắng, khỏi nhắc nhở chuyện tiền bạc, miễn góp đủ tiền lời hàng tháng cho mấy chị là ổn. Thực ra mấy chiếc xe máy Yamaha Max đời mới nhất, đẹp lạnh lùng luôn, nhìn thấy Yến cũng mê lắm, là của Hai Thành và mấy anh em nhà ở Sài Gòn mua về trong dịp hãng xe sản xuất lô hàng đầu tiên. Tàu nhận hàng gấp và chạy liền nên chưa ai kịp mang về, mang lên gởi đỡ ở nhà vợ chồng cô.
Hùng về nhà bàn với vợ chuyện hàng hóa, Yến dặn chồng:
- Anh ráng lo sao cho gọn việc, đừng để mang nợ, cực lắm. Anh cứ nghe theo anh Thành, ảnh nói có lí đó, rồi mai mốt có làm gì cứ theo với băng anh Thành, coi bộ mấy ảnh mần ăn hay lắm đó.
Thế là những chiếc giày lại theo Ninh Kiều lên đường đi Hồng Kông.

Hùng lang thang đi theo Hai Thành và Sáu Bảnh dạo một vòng đường phố Hồng Kông, đâu đâu cũng mua và bán, các cửa tiệm sạch sẽ sáng chưng, đầy hàng hóa. Có đủ các loại áo quần, đồ dùng điện tử, hàng lưu niệm, thứ gì coi cũng sang trọng, cũng đẹp mắt, thứ gì cũng muốn mua.
- Băng máy tàu mình ông nào cũng giỏi giang, chịu chơi, đẹp trai phơi phới thiệt ta ơi - Trên đường về gần tới bến đò, thật lâu Hai Hùng mới dám mở lời. Sáu Bảnh nghe có mùi có khói, cười hơ hơ:
- Lại nịnh đểu rồi, có việc gì không? nói liền với "chị hai" nè. Chắc lại chuyện "ăn giày" với ăn mỏng.
Hùng mắc cỡ vì bị bắt bài, nở nụ cười cầu tài rồi rón rén lại gần Thành, năn nỉ tính giùm vụ hàng hóa. Bây giờ anh mới thấy là mình thật là ếch ộp trong chuyện bán buôn. Cứ tưởng làm thủy thủ là có tiền ư? Không dám đâu. Cứ tưởng đi được nước ngoài là giàu sang ư? Mẹ bà nó, cực như con trâu, có dễ đâu chuyện bán buôn với người đời. Hai hùng nghĩ bụng.
Mấy bữa nay nghe thuyền trưởng thông báo có thể tàu nhận hàng về Hải Phòng hoặc Sài Gòn, Hùng lo dữ. Mấy nơi lạ lẫm, biết người ta sao, anh chỉ mong về được cảng nhà, có gì còn dễ ăn nói.
Anh càng lo lắng hơn khi Thành nghe chuyện lơ lơ nhìn đi đâu, rồi cười cười:
- Suốt ngày ông chỉ lo mấy đôi giày, sao mà cực quá đi. Đã chắc tàu về đâu mà tính? kệ bà nó đi, tới đâu tính tới đó.

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

Mấy chuyện cha con.

Anh bạn Giang còi - Gtl,  hỏi ku con trai:
- Thằng Trung Quốc nó tính đánh mình đó, năm nay Roy lớn rồi, người ta kiu, Roy có đi lính không? Roy nói:
- Đi chớ.
Hỏi chớ có dám wýnh Tàu không?
Roy  nói:
- Đánh cho nó thấy bà nó chớ.
- Thế Roy có sợ chết không dzợ?
- Cũng sợ chớ, ai không sợ chết.
- Tại sao sợ?
- Taị... con sẽ còn nhiều ước mơ nữa mờ, he he he...
 Bạn í tên Hoàng Gia, năm nay vô lớp Mười.

Mấy bữa nay nực nội ba chuyện đám tàu bè Trung Quốc đã bao lâu nhiễu dân đánh cá, bây giờ lại còn chơi cả hàng nóng đuổi ngư dân và dám mò vào sân nhà mình cắt cáp thăm dò biển. Chuyện xảy ra cách bờ có hơn trăm lí, lại còn vừa đánh trống vừa la làng. Thật buồn vì cấp nhà nước, anh quân đội, an ninh, ngoại giao... không có nổi một động thái hay tiếng nói để dân tình nghe cho đặng. Thảo dân chỉ biết ngồi bàn nhậu với nhau mà tẩy chay hàng trung Quốc, tẩy chay du lịch Trung Quốc, và "đan mạch" mấy thằng chính quyền Trung Quốc.
May mà đi thăm con ở trại hè, ngắm nhìn đám con nít chơi vui vô tư, coi và nghe con gái chọn hát "Hello Vietnam", thật tình cờ, tuy ca chưa hay nhưng làm cho vui và lòng dịu dàng lại. 

Thanh bình - hình cha chụp người ta.
Bữa hôm ngồi si nghĩ lan man chuyện cuộc sống thảo dân trong xã hội bây giờ, viết ngắn tí một lời cầu mong, rất giản dị cho mọi người là sự an bình cho cuộc sống.
Tối ấy hết giờ học vẽ, con gái mang qua phòng cho coi một tấm tranh còn ướt màu, coi thật thanh bình.
Giật mình một sự tình cờ. Nhìn tấm tranh bé mới vẽ và so tấm hình cha chụp vừa post minh họa bài viết như cùng muốn nói về sự thanh bình và có gì đó rất giống nhau. Một bãi cỏ xanh xanh, hai tấm cùng có bốn cặp đôi, ai đó có giờ đếm thử hai tấm hình coi có nhiêu cặp là biết, thiệt là dễ thương hết sức. Một cảm giác tạm an lòng.

Buổi chiều, sau hai đợt đi chơi xa và sinh hoạt tập thể, không đi chung cùng cha mẹ, bữa nay bạn Nhí nhỏ đã trở về nhà. Cười tươi dù mệt mỏi, mừng an toàn mạnh giỏi. Và nhìn thấy đã lớn lên thêm một lớp.

Lan man một tí, chỉ là mấy chuyện của cha và con.